Phân hạng đánh giá đất là gì? Các phương pháp phân hạng đất đai

0
228

Phân hạng khả năng thích nghi đất đai bao gồm sự kết hợp của “ tính thích nghi từng phần” cho mỗi chất lượng đất đai riêng biệt để tiến đến hạng thích nghi tổng của tất cả trong một đơn vị bản đồ đất đai cho kiểu sử dụng đất đai.

1. Khái niệm phân hạng đất đai

Phân hạng đất đai là bao gồm sự so sánh  giữa những chất lượng đất đai của một đơn vị bản đồ đất đai (hay những giá trị của những yếu tố chuẩn đoán của những đơn vị đất đai) với những yêu cầu của kiểu sử dụng đất đai (diễn tả bằng các phân cấp yếu tố). Sự đối chiếu này là một phần của tiến trình đánh giá đất đai. Khi tiến hành phải thực hiện riêng cho từng chất lượng đất đai, kết quả sẽ là “tính thích hợp từng phần” của đơn vị bản đồ đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai. Nhưng tính thích hợp từng phần này của mỗi chất lượng đất đai riêng rẽ sẽ được kết hợp lại để đi đến thích hợp chung của những đơn vị bản đồ đất đai cho kiểu sử dụng đất đai.

Trong khi so sánh giữa chất lượng đất đai và yêu cầu sử dụng đất đai sẽ tìm thấy những yêu cầu sử dụng đất đai không thoả mãn với chất lượng đất đai. Trong trường hợp này thì đầu tiên là xem những mức độ nào có thể có được để phù hợp với kiểu sử dụng đất đai. Thí dụ, nếu “ khả năng hữu dụng của  oxigen”  chỉ giới hạn trong một mùa trồng riêng biệt, thì cần thiết phải chọn lọc một loại cây trồng khác hay một giống khác thích hợp cho sự luân canh này. Hay trong trường hợp yêu cầu về “khả năng làm đất” thì không phù hợp, có thể dùng những máy móc có công suất lớn hơn để hoạt động.

Thêm một vấn đề nữa là phải tìm ra nếu khả năng cải thiện đất đai ở qui mô nhỏ có thể được, và như vậy người nông dân có thể tự cải thiện trong khả năng của họ. Dĩ nhiên là tùy theo tình trạng hiện tại của từng địa phương, và sự cải thiện mà ta xem là qui mô nhỏ thì lại là vấn đề lớn cho các vùng mà nông dân thu nhập thấp hay hạn chế về khả năng vốn. Do đó, sự quan trọng là phải phân biệt rõ người nông dân tự trả hay phần nào đó nhà nước phải đầu tư. Đầu tư cho cải thiện đất đai ở qui mô nhỏ thường nằm trong chi phí hàng năm. Thí dụ như: sử dụng phân bón, bón vôi, trồng cây theo đường đồng cao độ, trồng cây theo dãy, tủ cỏ rơm…..

Ngược lại, cải thiện ở qui mô lớn đòi hỏi số lượng lớn vốn cho chi phí đầu tư cố định, mà không thể thực hiện được bởi những nông dân riêng rẽ và sự đầu tư này sẽ tạo ra sự thay đổi chấp nhận và bền vững trong tính thích nghi của đất đai. Thí dụ như xây dựng hệ thống tưới và thoát nước, hay sự phát hoang vùng rừng, cải tạo điều kiện đất nhiễm mặn. Những vấn đề này có thể được gọi là tính thích nghi đất đai tiềm năng.

2. Cấu trúc xếp hạng, các yếu tố chuẩn đoán

Tiến trình tìm ra những khả năng thích hợp có thể được cho kiểu sử dụng đất đai và khả năng cải thiện của những chất lượng đất đai đang có được gọi là yếu tố đối chiếu.  Sau khi đối chiếu ta có thể so sánh lần nữa xem đất đai thích nghi cho một loại sử dụng riêng biệt hay không. Cụ thể hơn thì đây là sự so sánh đầu vào và đầu ra của hệ thống sử dụng đất đai. Đầu vào là những chi phí cho việc cải thiện qui mô nhỏ và lớn. Đầu ra là mức khác nhau của năng suất và khả năng tin cậy vào sự ổn định năng suất.

Một thí dụ sau đây để chứng minh và giải thích, nếu đơn vị đất có tính thoát nước chưa hoàn chỉnh thì được phân hạng là thích nghi kém S3 cho loại sử dụng riêng biệt nào đó, phân hạng này có thể cải thiện bằng:

  •  Thay đổi tính chuyên biệt của kiểu sử dụng.  Kỹ thuật trồng cây trên những giồng có thể là kết quả nâng cấp thích nghi lên S2 thông qua việc gia tăng độ thoáng khí của vùng rễ. Sự cải tiến này bao gồm sự gia tăng lao động và vốn đầu tư. Sự thay đổi bức xạ trong kiểu sử dụng đất đai, như là thay đổi cây trồng từ mía sang lúa, có thể kết quả sẽ cho S1 nếu cây lúa thích hợp với các chất lượng đất đai khác.
  •  Thay đổi đặc tính đơn vị đất đai. Có thể xây dựng  mạng  lưới  những mương thoát nước để cải thiện chất lượng đất đai.

Giả sử rằng sự cải tiến kiểu sử dụng đất đai hay cải thiện đất đai thì mang tính khả thi kỹ thuật và kinh tế, và có thể chấp nhận được theo những mục tiêu của dự án, thực hiện nó có thể nâng cấp phân hạng thích nghi từ S2 lên S1. Do đó kết quả đối chiếu có thể đưa đến:

(1) Thay đổi đặc trưng chính của kiểu sử dụng đất đai: Trong mỗi kiểu sử dụng đất đai đều được mô tả bằng 4 đặc trung chính đó là: đặc trưng sinh học; đặc trư ng kinh tế xã hội; đặc trưng kỹ thuật quản lý; và đặc trưng cơ sở hạ tầng, do đó nếu khi kết quả thích nghi không cao hay không cho thích nghi mà các yếu cầu sử dụng đất đai không thể thay đổi được thì ta có thể thay đổi các đặc tính của các đặc trưng này để đáp ứng theo yêu cầu sử dụng đất đai của kiểu sử dụng đất đai. Thí dụ: yêu cầu sử dụng đất đai của cơ cấu lúa Hè Thu – Xuân trồng trong mùa khô về  “nguy hại  do  ngập  lũ” với  đặc tính chuẩn đoán là độ sâu ngập và thời gian ngập. Nếu chất lượng đất đai tương ứng không thể cải thiện được thì ta có thể thay đổi đặc trưng đất đai là tìm ra các giống lúa ngắn ngày hơn để tránh thời gian lũ, …

(2) Ngược lại, ta có thể thay đổi chất lượng đất đai thông qua việc cải tạo đặc tính đất đai để phù hợp với yêu cầu sử dụng đất đai. Đây là trường hợp dễ thực hiện hơn. Trong trường hợp này thì con người có thể can thiệp  vào việc cải  thiện các đặc  tính đất đai  như  trong trường hợp thí dụ phần tr ên thì người ta có thể bao đê để đáp ứng theo yêu cầu của kiểu sử dụng đất đai và có thể có kết quả thích nghi tốt hơn đối với chất lượng đất đai này.

Cả hai trường hợp trên được gọi là nâng cấp thích nghi đối với những trường hợp mà thích nghi đất đai hiện tại không đạt. Điều này cho thấy được kết quả thích nghi đất đai sẽ phù hợp hơn với điều kiện thực tế canh tác của người dân. Do hầu hết người dân canh tác trên thực tế đều có đầu tư cải thiện chất lượng đất đai theo thời gian, nên có một số trường hợp với chất lượng đất đai không thích nghi với yêu cầu sử dụng đất đai của một kiểu sử dụng đất đai nào đó, nhưng thực tế người dân đang canh tác rất có hiệu quả và thích nghi.

3. Phân hạng đất đai

3.1. Các phương pháp phân hạng đất đai

Phân hạng khả năng thích nghi đất đai bao gồm sự kết hợp của “ tính thích nghi từng phần” cho mỗi chất lượng đất đai riêng biệt để tiến đến hạng thích nghi tổng của tất cả trong một đơn vị bản đồ đất đai cho kiểu sử dụng đất đai. Ba phương pháp có thể được sử dụng cho tổng thích nghi đất đai của đơn vị bản đồ đất đai với một kiểu sử dụng đất đai:

Được áp dụng ở những nơi mà người đánh giá đất đai có nhiều kinh nghiệm và kiến thức hiểu biết về sinh thái và kỹ thuật của các kiểu sử dụng đất  đai,  đó là sự  kết hợp những đánh giá chất lượng đất đai riêng rẽ thành tổng thích nghi bằng cách điều chỉnh các yếu tố. Thí dụ như khi kiến thức và kinh nghiệm trong vùng nghiên cứu xác định có hai chất lượng đất đai được đánh giá là S2 mà có cùng hai yếu tố hạn chế thì đánh giá tổng cộng trở nên là S3.

Sự bất tiện của cách đánh giá kết hợp này là: thứ nhất tất cả các quyết định giống nhau chưa chắc luôn luôn đạt đến mức đồng ý giống nhau, đặc biệt là nếu có hai hoặc hơn hai người đánh giá chung với nhau; thứ hai là độ tin cậy và kết quả tùy thuộc rất nhiều vào khả năng và kiến thức về cây trồng của người đánh giá.

Phân hạng khả năng thích nghi đất đai bao gồm sự kết hợp của “ tính thích nghi từng phần” cho mỗi chất lượng đất đai riêng biệt để tiến đến hạng thích nghi tổng của tất cả trong một đơn vị bản đồ đất đai cho kiểu sử dụng đất đai. Ba phương pháp có thể được sử dụng cho tổng thích nghi đất đ ai của đơn vị bản đồ đất đai với một kiểu sử dụng đất đai:

  • Sự kết hợp các yếu tố
  • Các điều kiện giới hạn
  • Phương pháp tham số

3.1.1. Kết hợp các yếu tố

Được áp dụng ở những nơi mà người đánh giá đất đai có nhiều kinh nghiệm và kiến thức hiểu biết về sinh thái và kỹ thuật của các kiểu sử dụng đất  đai,  đó là sự  kết hợp những đánh giá chất lượng đất đai riêng rẽ thành tổng thích nghi bằng cách điều chỉnh các yếu tố. Thí dụ như khi kiến thức và kinh nghiệm trong vùng nghiên cứu xác định có hai chất lượng đất đai được đánh giá là S2 mà có cùng hai yếu tố hạn chế thì đánh giá tổng cộng trở nên là S3.

Sự bất tiện của cách đánh giá kết hợp này là: thứ nhất tất cả các quyết định giống nhau chưa chắc luôn luôn đạt đến mức đồng ý giống nhau, đặc biệt là nếu có hai hoặc hơn hai người đánh giá chung với nhau; thứ hai là độ tin cậy và kết quả tùy thuộc rất nhiều vào khả năng và kiến thức về cây trồng của người đánh giá.

3.1.2. Điều kiện giới hạn

Một phương pháp đơn giản và theo hệ thống này là lấy cái đánh giá ít thích hợp nhất như là giới hạn. Do đó nếu có ba chất lượng đất đai được đánh giá ở mức độ thích nghi s1, s2, s3 thì tổng thích nghi sẽ là S3. Tính hệ thống của phương thức này là không sử dụng những điều kiện tối hảo liên quan đến chế độ nhiệt, khả năng hữu dụng của ẩm độ…. nếu điều kiện của rễ bị giới hạn. Phương thức này được thực hiện thông qua luật “ giới hạn tối thiểu” trong nông nghiệp, mà trạng thái của cây trồng với năng suất sẽ được xác định bằng dinh dưởng cây trồng ở mức độ cung cấp phân bón thấp nhất.

Phương pháp sử dụng điều kiện giới hạn phải được luôn luôn theo yêu cầu bắt đầu từ đánh giá N, không thích nghi.

Tiện lợi của phương  pháp này là tính đơn giản và thực tế là đánh giá được  những  trường hợp giới hạn trong phần thích nghi  tổng. Sự  bất lợi là không tính được những cách khác nhau trong các tác động của các chất lượng đất đai.

3.1.3. Phương pháp tham số

Phương pháp tham số bao gồm sự đánh giá những đặc tính khác nhau của đất đai và cho những giá trị khác nhau tùy theo tính quan trọng giữa các đặc tính đó, thứ hai là kết hợp những yếu tố này bằng giá trị số theo một luật toán học để tính toán sự tương quan tác động giữa những yếu tố đó đến sản xuất và phát triển của nông nghiệp mà trong đó đất đai là yếu tố phân cấp cho giá trị nông nghiệp. Trong phương pháp tham số, sự đánh giá riêng biệt biểu hiện bằng số, có thể được liên kết bằng phương pháp cộng hoặc phương pháp nhân. Trong phương pháp nhân, mỗi cấp thích nghi được chia thành cấp giá trị từ 1 cho S1 đến 0 cho N. Hầu hết các giá trị thích hợp có thể thay đổi từ vùng này đến vùng khác và có thể điều chỉnh bằng thử nghiệm. Những giá trị đề nghị là S1= 1,0; S2= 0,8; S3= 0,6; N=0. Các giá trị cho điểm cấp thích nghi của chất lượng đất đai rất quan trọng và quan trọng trung bình được nhân với nhau, kết quả nhân được chia toàn bộ giá trị cho điểm cấp thích nghi theo tỉ lệ năng suất mùa vụ, . . . 0,8-1.0 = S1 ; 0,4-0,8 = S2 ; 0,2-0,4 =S3;  0,0-0,2 = N.

Tiện lợi của phương pháp này là lượng hóa các số liệu cho máy tính. Theo phương pháp này thì đòi hỏi các số liệu về năng suất phải đáng tin cậy để tính toán và điều chỉnh đồng thời có thể chuyển từ vùng này sang vùng khác. Không có số liệu năng suất và sự điều chỉnh hợp lý thì rất nguy hiểm và và kết quả được tính toán sẽ không phù hợp với thực tế trong v ùng.

Trong việc đánh giá tính thích nghi cho một cơ cấu cây trồng kết hợp, trước nhất là phải đánh giá tính thích nghi của từng loại cây trồng sau đó sẽ tổng hợp chung. Hay nói một cách tổng quát, tính thích nghi của một hệ thống cây trồng có hai hoặc  ba loại cây hay mùa vụ thì kết quả chung sẽ là hạng thích nghi của cây trồng hay mùa vụ có tính thích nghi thấp nhất. Thí dụ nếu đơn vị đất đai được đánh giá l à thích nghi S2 cho bắp và S1 cho đậu phộng, thì kết quả thích nghi chung cho hệ thống là thích nghi S2. Tuy nhiên luật này cũng được điều chỉnh theo những quan hệ liên tiếp nhau. Thí dụ như, nếu tính thích nghi thấp hơn cho bắp do hạn chế về khả năng dinh dưỡng, và đặc biệt là yêu cầu hàm lượng đạm cao, thì sẽ kết hợp loại cây màu nào đó có tính giải quyết được những giới hạn này.

Tất cả các đánh giá thích nghi đạt được bằng cách áp dụng các phương pháp trình bày trên được kiểm tra bằng cách so sánh với số liệu ngoài thực tế ngoài đồng, trên năng suất cây trồng và đầu tư.

3.1.4. Thí dụ kết quả thích nghi đất đai sau khi đối chiếu

Kết quả phân hạng khả năng thích nghi đất đai của vùng ven sông nhiễm mặn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Phân hạng khả năng thích nghi đất đai được thực hiện theo quy trình đánh giá đất đai của FAO (1976). Kết quả này có được là sự so sánh chất lượng đất đai của các đơn vị bản đồ đất đai với yêu cầu sử dụng đất đai của các kiểu sử dụng đất đai được diễn tả dưới dạng phân cấp yếu tố. Trước hết là đánh giá cho từng loại cây trồng, sau đó kết hợp lại theo một cơ cấu để có thích nghi chung. Một cách tổng quát, khả năng thích nghi của một hệ thống cây trồng bao gồm nhiều loại cây trồng thì tổng thích nghi sẽ là mức giới hạn thấp nhất của loại cây trồng nào đó.

3.2. Cấu trúc của phân hạng thích hợp

Cấu trúc của  phân hạng thích hợp đất đai có 4 cấp phân hạng: bộ, lớp, lớp phụ, đơn vị.

3.2.1. Bộ thích nghi

Bộ “S” thích nghi bao hàm kiểu sử dụng đất đai cho năng suất có lợi mà có thể điều chỉnh đầu tư và không chấp nhận sự rủi ro thiệt hại gây ra yếu tố tự nhiên hay do nguồn tài nguyên. Bộ “N” không thích nghi được phân chia ra hai dạng là không thích nghi hiện tại N1 và không thích nghi vĩnh viễn N2.

Trong cả hai trường hợp, đất đai có sự giới hạn trầm trọng mà “S” không có thể có được.  Tuy nhiên, trong trường hợp N1, thì có thể điều chỉnh trong tương lai nếu có  sự đầu tư kỹ thuật mới,  hay có sự thay đổi về giá cả thị trường, hay chi phí đầu tư ở các mức độ có thể chấp nhận được.

3.2.2. Lớp thích nghi

Lớp thích nghi thì cho thấy cấp độ thích nghi. Trong tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai của FAO, 1976 thì lớp thích nghi có thể được chia thành 3 lớp: thích nghi cao S1, trung bình S2, kém S3. Tuy nhiên tùy theo yêu cầu của các kiểu chọn  lựa  khác nhau mà có thể tăng hay giảm số lớp thích nghi. Trong thực tế thì cho thấy chia 3 lớp thích nghi có khả năng hữu dụng tốt nhất.

3.2.3. Lớp phụ thích nghi

Những lớp phụ phản ánh loại giới hạn, thí dụ như thiếu ẩm độ, thiệt hại do xói  mòn….  Số  lượng lớp phụ thì tùy theo số lượng các giới hạn được chọn lựa, đồng thời nó còn tùy thuộc vào mục tiêu ban đầu trong phân hạng mà có sự khác nhau trong phân loại lớp phụ. Có hai cách hướng dẫn:

  •  Số lượng lớp phụ phải xem ở mức tối thiểu để có thể cho thấy sự phân biệt phân hạng trong một lớp.
  •  Càng ít giới hạn càng tốt có thể sử dụng ký hiệu cho các lớp phụ. Chỉ cần một đến hai chữ cho lớp phụ là đủ, thường th ì chỉ có một chữ, tuy nhiên nếu có cùng hai chất lượng đất đai đều có giới hạn nghi êm trọng ngang nhau thì có thể dùng cùng một lúc cả hai chữ.

3.2.4. Đơn vị thích nghi

Trong các khảo sát đánh giá ở tỉ lệ lớn, thì các lớp phụ có thể được bán phân chia ra thành các đơn vị thích nghi. Những đơn vị thích nghi này được phân biệt bằng các số theo sau chữ của lớp thích nghi v à cách nhau bởi gạch nối, thí dụ: S2e-1, S2e-2…Những số này có thể bất kỳ tùy theo các cấp chia trong một lớp phụ.

Tất cả đơn vị thích nghi trong một lớp phụ thì có cùng cấp lớp thích nghi và có  những giới hạn tương tự nhau ở cùng mức độ lớp phụ.  Nhưng những đơn vị này khác nhau do những đặc tính sản xuất hay trong các yêu cầu về quản lý. Những sự khác biệt này là do sự thay đổi một ít trong các điều kiện về môi trường tự nhiên, thí dụ như với đặc tính sa cấu đất thì đòi hỏi nhiều cách quản lý khác nhau.  Ngoài ra những sự khác nhau này cũng do những yếu tố khác như khả năng vốn giữa các nông trang, hay khoảng cách nơi ở đến cánh đồng canh tác.

Để xác định  những đơn vị thích nghi đất đai, quản lý chi tiết hay khuyến cáo qui hoạch nông trang thì phải được thực hiện cho từng cánh đồng hay nông hộ riêng rẽ.

Bảng 1: Cấu trúc của phân hạng thích nghi đất đai (FAO, 1976).

Bộ thích nghi đất đai Lớp thích nghi đất đai Lớp phụ thích nghi đất đai Đơn vị thích nghi đất đai
Phản ánh loại

thích nghi

Phản ánh cấp độ thích   nghi  trong Bộ Phản  ánh  loại  giới hạn hay loại chính của tính toán cải tạo được yêu cầu trong lớp Phản ánh những sự     khác     nhau nhỏ    trong    yêu cầu của lớp phụ
 

 

 

S: thích nghi

S1:  thích   nghi cao

S2:  thích  nghi trung bình

S3:  thích  nghi kém

S2n:  thích  nghi trung bình, giới hạn là khả năng dinh dưỡng

S3me: thích nghi kém, giới hạn là ẩm độ và xói mòn

S2n-1

S2n-2

S3me-1

S3me-2

 

N: không thích nghi

N1:  không  thích nghi hiện tại

N2:  không  thích nghi vĩnh viễn

N1m: không thích nghi   hiện   tại,   hạn chế do ẩm độ.

 

4. Đề xuất cho việc xử dụng đất hợp lý

Qua đánh giá đất đai liên quan đến số lượng và đặc tính của các số liệu thu thập khi khảo sát. Sự chọn lựa sau đây có thể thực hiện được:

  •  Kết quả của đánh giá đất đai có thể diễn tả ở dạng số lượng hay chất lượng?
  • Những yếu tố kinh tế được phân tích ở mức độ nào?
  • Tiến hành thực hiện như thế nào? có thể thực hiện phân tích điều kiện tự nhiên và kinh tế cùng một lúc không? hay chỉ phân tích kinh tế sau khi đã giải đoán và đánh giá điều kiện tự nhiên?

Do đó để chi tiết hóa và giải đáp theo các câu hỏi trên, phần sau sẽ cung cấp đầy đủ các định nghĩa.

4.1. Phân hạng khả năng thích nghi đất đai định tính hoặc định lượng

4.1.1. Phân hạng khả năng thích nghi đất đai định tính

Phân hạng khả năng thích nghi đất đai định tính là đánh giá thích nghi mà kết quả cho ra chỉ được diễn tả dưới dạng định tính, mà không có mô tả chi tiết các phần đầu tư, sản lượng, hay chi phí và thu hồi. Những yếu tố giới hạn giữa các lớp thích nghi thì chỉ được định nghĩa dưới dạng định tính.

4.1.2. Phân hạng khả năng thích nghi đất đai định lượng:

Phân hạng khả năng thích nghi đất đai định lượng là phương pháp đánh giá thích nghi mà kết quả được diễn tả dưới dạng số lượng mà cho phép ta có thể so sánh giữa những kiểu sử dụng khác nhau. Có hai loại đánh giá thích nghi định lượng là: tự nhiên và kinh tế.

  •  Đánh giá thích nghi định lượng môi trường tự nhiên: là phương pháp đánh  giá thích nghi có thể cung cấp sự ước đoán số lượng của lợi nhuận: năng suất cây trồng và sản lượng. Để thực hiện cũng tính toán luôn phần  đầu tư riêng biệt bằng định tính, thí dụ như số lượng phân bón, số lần làm cỏ, xử  lý thuốc trừ sâu. Định nghĩa về phần giới hạn giữa các lớp thích nghi bao gồm luôn cả sự ước đoán năng suất cho một loại đầu tư và quản lý chuyên biệt.
  •  Đánh giá thích nghi định lượng kinh tế: là loại đánh giá mà toàn thể hay ít  nhất có một phần kết quả được diễn tả dưới dạng kinh tế hay tài chánh. Những tính chất cần thiết là sử dụng giá trị tiền tệ cho phần chi phí đầu tư và giá cả trong phần thu hồi và lợi nhuận. Giới hạn giữa các lớp thích nghi được xác định với ít nhất có một phần dưới dạng kinh tế.

Một vấn đề rất quan trọng cần chú ý là trong những định nghĩa này liên hệ đến các kết quả có được từ những mô tả của các phần đánh giá. Số liệu thu thập được càng định lượng càng tốt. Hơn thế nữa, các số liệu về kinh tế cơ bản thì rất cần thiết ngay cả trong phần đánh giá đất đai định tính.

Đánh giá định tính thường thích hợp cho các khảo sát với tỉ lệ nhỏ cho một vùng rộng lớn và cho các mục đích sử dụng khác nhau, kết quả cho được dùng để xác định những vùng thích hợp cho từng cây trồng riêng biệt, đồng thời cũng là cơ sở cho các nghiên cứu khả thi trong tương lai và cho xây dựng các khu vực định cư của dân chúng. Hầu hết các cuộc khảo sát trên một vùng có nhiều loại sử dụng đất đai chính. Đánh giá định tính có giá trị lâu dài theo thời gian, và kết quả này có thể tồn tại giá trị theo đơn vị tính là số năm.

Đánh giá định lượng môi trường tự nhiên có thể được xem như là khảo sát cho một số sử dụng đất đai có những hạn chế để cho được sự ước lượng về sản lượng. Thí dụ như đánh giá để giúp cho qui hoạch mở rộng diện tích trồng ngũ cốc. Ước lượng sản lượng tự nhiên thông thường thì được kèm theo phân tích kinh tế ở các giai đoạn sau trong phần qui hoạch.Tuy nhiên kết quả này sẽ là nền tảng cho đánh giá thích nghi kinh tế.

Đánh giá thích nghi kinh tế thì cần thiết trong tất cả các khảo sát ở dạng đề án khả thi hay trong giai đoạn thực hiện đề án. Đánh giá kinh tế có giá trị tương đối ngắn và sẽ thay đổi nhanh khi có sự thay đổi trong giá cả, đầu tư và thị trường.

4.2 Vai trò của kinh tế

Quan tâm đến kinh tế là vấn đề luôn luôn được chú ý trong đánh giá đất đai. Tuy nhiên một điều quan trọng là không nhầm lẫn với khoa học kinh tế trong  nghĩa  rộng của nó so với những  hình ảnh kinh tế chính xác hay phân tích tài chính.

Mức độ chi tiết của phân tích kinh tế biến động lớn theo mục tiêu nghiên cứu và mức độ tỉ lệ khảo sát. Trong khảo sát đánh giá thích nghi định tính với tỉ lệ nhỏ, điều kiện kinh tế và xã hội của người sử dụng đất đai và những nguồn tài nguyên giá trị thì chỉ được ghi nhận một cách tóm tắt. Phân hạng thích nghi bằng cách kết hợp giữa sử dụng đất đai và đơn vị đất đai với việc so sánh kinh tế đơn giản để từ đó có thể cho thấy được những nông trang hay những đơn vị sản xuất có khả năng khác nhau về mặt tài chính. Do đó mặc dù kết quả của đánh giá đất đai thì không được diễn tả dưới dạng kinh tế, nhưng với số lượng giới hạn trong việc phân tích và so sánh kinh tế có thể được dùng để bổ sung và giải thích thêm cho kết quả đánh giá này.

Ở mức độ đánh giá chi tiết hơn, phân tích kinh tế thì được dùng nhiều hơn, với sự so sánh giữa chi phí và lợi nhuận của một hay nhiều kiểu sử dụng đất đai được chọn lọc với nhau. Phân tích này được diễn tả dưới dạng phân tích tài chính hay kinh tế, hay cả hai. Những kết quả cuối cùng sẽ bao gồm những thông tin cho ra như : lợi nhuận của nông trang liên hệ đến những lớp thích nghi.

Do đó, vai trò của phân tích kinh tế giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp đầy đủ các thông tin cho giai đoạn trong qui hoạch để có thể quyết định vấn đề được rõ ràng hơn.

4.3. Đánh giá ảnh hưởng môi trường

Trong quyết định sử dụng đất hiện tại hay thay đổi sử dụng đất trong tương lai đều có thể có ảnh hưởng tốt hay xấu với môi trường. Có hai kiểu ảnh hưởng có thể được phân biệt theo sau:

4.3.1. Ảnh hưởng nội tại

Ảnh hưởng trực tiếp lên đất đai mà kiểu sử dụng đang thực hiện. Cụ thể:

  •  Khai thác dọn sạch cây rừng thực vật trong các vùng có loài cây hiếm hay động vật hiếm.
  •  Hủy hoại hành lang di chuyển của các loài hoang dã.
  • Giảm hàm lượng chất hữu cơ ở tầng mặt và lớp bị rửa trôi do chuyển đất đồng cỏ sang trồng cây trồng cạn.
  •  Tạo nén tầng mặt do hoạt động của các máy móc làm giảm độ thấm rút của đất.
  •  Sự phèn hóa do sự thoát nước từ khu vực đất phèn tiềm tàng thuộc các vùng duyên hải.
  •  Làm mất đi nguồn thu nhập phụ lâu đời của nông dân trồng lúa nước về mặt thủy sản, do sự áp dụng quá nhiều thuốc trừ sâu hay bao đê ngăn lũ.

Hầu hết các ảnh hưởng nội tại phải được tính đến trong đánh giá đất đai do tính bền vững của sử dụng đất đai và là một trong những nguyên tắc trong phương thức đánh giá đất đai. Do đó, khi mà một kiểu sử dụng mặc dù có thể chấp nhận được nhưng tạo nên sự suy thoái đất đai nghiêm trọng thì sẽ được phân hạng là không thích nghi. Tuy nhiên trong những trường hợp nếu có sự cải thiện điều kiện đất đai hay cải thiện kiểu sử dụng đất để làm cho sử dụng đất đai bền vững thì có thể nâng cấp thích nghi. Thí dụ như làm bờ bao giữ nước hay các ruộng bậc thang để tránh xói mòn, hay thoát phèn bằng các hệ thống thoát nhỏ. Trong việc cải thiện sử dụng đất đai thì chủ yếu là dựa vào các kỹ thuật canh tác như che phủ đất hay trồng cây theo đường bình đồ cao độ để tránh xói mòn. Tuy nhiên có những trường hợp ảnh hưởng nội tại xấu nhưng do có nhiều điều lợi cho kinh tế nên người dân vẫn thực hiện, thí dụ như  khai  phá vùng đất hoang cho nuôi tôm, hay tôm lúa có thể ảnh hưởng phèn hay ảnh hưởng đến môi trường nước. Những ảnh hưởng xấu đôi khi có thể chấp nhận được, nhưng nếu có ảnh hưởng đến sự suy thoái trầm trọng cho đất và môi trường thì mặc dù có lợi về mặt kinh tế xã hội thì vẫn không được chấp nhận.

4.3.2. Ảnh hưởng ngoại tại

Ảnh hưởng đến vùng chung quanh hay các vùng h ạ lưu hay vùng dưới chân núi đồi… Cụ thể:

  •  Sự trầm lắng phù sa và gây ngập lục ở vùng hạ lưu do vùng thượng lưu  phá  rừng, hay sự cạn dần của các hồ chứa làm cho thiếu nước trong mùa khô, sự thay đổi những đặc tính sinh sản và phát triển của các loài tôm cá do vấn đề phá rừng ngập mặn làm nguồn tôm giống ngày một cạn kiệt.
  •  Mất dần khả năng dinh dưỡng của các sông hay sự mặn hóa trong các vùng ven sông do sự phát triển vùng tưới quá lớn trên thượng nguồn. Chính  những vấn đề  này ảnh hưởng đến các loài phiêu sinh sống trong nước và ảnh hưởng đến tiềm năng của nguồn tôm cá trong toàn vùng.

Những ảnh hưởng xấu của kiểu sử dụng đất đến môi trường thì không chỉ bao gồm trong đánh giá đất đai mà còn phải dành riêng một chương trong thuyết minh để lý giải và thuyết minh vấn đề này. Mục đích trong chương này là phân tích và đưa ra các khả năng có thể xảy ra cho môi trường của từng cơ cấu để các nhà quy hoạch và người sử dụng chú ý đến khi muốn thay đổi kiểu sử dụng đất đai trong vùng.

4.4. Mô hình sau cùng cho đánh giá đất đai

Với những thông tin được trình bày trong chương  này, mô hình cho đánh giá đất đai đã được phát triển thêm một bước nối tiếp từ những chương trước và cuối cùng hình thành mô hình hoàn chỉnh.

Hình 1: Mô hình đánh giá đất đai

Nguồn:Đánh giá đất đai- ĐHTNMT Hà Nội

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here